Gốc > Ca dao Việt Nam >

Trèo lên cây bưởi hái hoa

TRÈO LÊN CÂY BƯỞI HÁI HOA
(Ca dao)
 
 


3580333
 

BÌNH GIẢI: của Đỗ Trọng Khơi
 

 
Hoa Tầm xuân (Rosa canina)
1. Người con trai xuất hiện qua hai câu thơ đầu thoạt xem thấy khá vẽ vời, điệu đàng. Dễ gây tương phản với cảnh tình đầy buồn thương, tiếc nuối. Xét kỹ vào sâu nội cảnh mới thấy không phải thế. Người con trai đã trèo lên cây rồi lại bước xuống vườn để hái hoa hái nụ. Nụ và hoa là đôi thứ cho ta biết về sắc và hương. Giá trị thực, quan trọng hơn mà cây hiến cho cuộc đời là trái quả thì người con trai, trong hoàn cảnh ấy đã không thể hái. Dù anh ta đã bước xuống cả một: vườn cà. Xin hiểu cho là hoa bưởi, tầm xuân nở vào tháng hai tháng ba, mà cà thì ra quả cũng vào thời gian này. Cà là thứ quả dùng để nén, muối và nấu canh ăn. Vì vậy, nhân vật "anh" trong thơ mà hái thứ quả này tất nó sẽ gây cho cảnh thơ nỗi buồn cô đơn rất lớn. Bởi nó gợi ra cảnh sống gia đình chồng vợ vui vầy bên bữa ăn sớm tối. Câu, "Bước xuống vườn cà..." không để "hái cà" mà lại đi "hái nụ tầm xuân" là rất tinh tế, giấu đi kín nhẹm cái nội dung tình cảm ấy. "Anh đi anh nhớ quê nhà / Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương" hay "Bao giờ cà chín cà xanh / Anh cho một quả để dành mớm con..." (Ca dao). Hình ảnh "người vợ" (lẽ ra là vậy!) đã lồng soi, khúc xạ qua mùi hương bóng sắc của nụ và hoa, đặc biệt qua sức ẩn dụ của "vườn cà", khi người con trai bước gần lại bên người con gái "đã có chồng" mà anh ta hằng yêu thương, mơ tưởng.
2. Bài ca dao có 10 câu thơ, thể hiện cho nội dung của hai câu hỏi và đáp. Thơ được viết bởi hai thể loại thơ lục bát và song thất. Hai câu thất ngôn bố cục ở cuối mỗi lời hỏi, đáp. Âm vận của thể lục bát được liên kết giữa câu 6 với câu 8 bởi thanh bằng hoặc thanh không. Và để đảm bảo âm thanh nhịp điệu uyển chuyển, thông thường thơ lục bát chủ yếu được ghép vần ở vần chân (từ số 6 của câu 8) chứ ít ghép vần ở vần lưng (từ số 4 của câu 8). Nhưng bài ca dao này có 3 cặp lục bát chỉ có 1 cặp ghép vần ở vần chân. Thể thơ lục bát ở đây phần nhiều hơn dùng vần lưng để nối vần là cốt tạo ra âm vực trầm ở giữa nhịp câu. Nó đã gây hiệu ứng về sắc độ tình cảm u trầm, chìm đắm và gây cảm nhận về điểm nương cậy chưa thật vững vàng.
Vì sao dùng hai câu thất ngôn làm đế kết cho hai lời hỏi và đáp? Đây là điều cũng cần được lý giải. Cặp thất ngôn liên vận với nhau ở âm trắc. Sử dụng thể thất ngôn, với âm vận trắc cho câu kết mỗi khổ thơ ở bài ca dao này là nhằm đạt được tính chất cắc cớ, ngãng trở của tâm lý và hoàn cảnh sống. Hai câu thất ngôn bất thần đặt xuống trước dòng chẩy xuôi thuận của thể lục bát như đá tảng ngăn dòng. Nó vang lên âm điệu chói mạnh, tạo một cưỡng lực tinh thần trước hoàn cảnh ngang trái của đời sống.
3. Sự ngỏ tình trong cảnh "chim đã vào lồng, cá đã cắn câu" giữa cái thời quan niệm về đạo đức gia phong vốn lấy "tứ đức tam tòng" làm chuẩn mực, hẳn đôi tình nhân nọ không than thở chỉ nhằm mà than thở. Hình ảnh thơ ngay từ đầu đã kín đáo lộ ra tư tưởng cần tìm sự chuyển lay và thay đổi.
Trở lại hình ảnh 3 câu thơ đầu bài: "Trèo lên cây bưởi hái hoa / Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân / Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc..." cho thấy, người con trai đã hái cả "hoa" và "nụ", nhưng đến khi bước lại thưa bày với người con gái, đã có chồng, thì anh lại chỉ nói về nụ. Và anh thấy cái "nụ" ấy nó sẽ nở ra "xanh biếc". Thật tinh tế và ý nhị vô cùng. Vì sao? Vì anh nhận ra, nếu đem bông hoa đã nở, đã viên mãn nó sẽ gợi cho người con gái sự mặc cảm hoặc bị tổn thương. Và quan trọng hơn, trong mắt người con trai khi ấy anh vẫn thấy người yêu của mình, dù đã có chồng nhưng vẫn còn "đương nụ". Nghĩa là còn trọn vẹn sắc hương và lại là một thứ sắc hương căng đầy sức sống: Xanh biếc. (Hoa xuân đương nhụy, ngày xuân còn dài - Truyện Kiều). Chính bởi nhận biết được ý tứ ấy, người con gái mới nhún mình mà rằng: "Ba đồng một mớ trầu cay". Cái thứ trầu cay, trầu hôi, rẻ thôi, có ba đồng được cả mớ. Một người đoan chính, hương sắc còn xanh biếc như hoa đương nụ kia hẳn đã không dễ hạ giá mình như vậy nếu không được lời, nhận biết được ý tứ yêu thương, trân trọng của người yêu. Và hơn ai hết, người con gái vốn đã quen việc bếp núc nội trợ, cô cũng hiểu ra nỗi cô đơn, niềm tiếc thương của người yêu khi anh bước xuống vườn cà mà không dám hái quả.
Tình tha thiết chân thành được thể hiện một cách ý nhị, rất mực tinh tế như vậy chính là ngầm tạo một mạch dẫn cho sức dồn nén ở kết bài. Điều này chứng minh, câu hỏi mà người con gái đặt ra là tiếng than van, nhưng không buông xuôi, bất lực. Nó cầu tìm điểm dẫn nối tinh vi nơi tình người con trai đã ngầm thổ lộ. Nó hướng tới một hy vọng đổi thay.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ?
Chim vào lồng biết thủa nào ra?
Lời ướm hỏi và lời đáp nhẹ nhàng, tinh tế. Hai người đều tránh lời dễ gây thương tổn, thất vọng. Một cảnh tình sâu nặng, bền chặt, bức xúc. Nó báo hiệu về một ý chí, một cưỡng lực.
Tình yêu chân chính, đẹp đẽ bao giờ cũng là nguồn sức mạnh cho hy vọng xây dựng, đổi thay cuộc sống.
 
    Bài2
 
 
 
Các thế hệ Việt Nam vào đời, hầu như người nào cũng thuộc một đôi câu đôi bài ca dao với rất nhiều những dòng lục bát dân gian còn thơm mùi hoa cau, hoa cải vàng và những cánh bướm vờn quanh ớt đỏ. Không chỉ dừng lại ở tiếng nói thông thường, mà những câu lục bát ấy sớm chắp cánh thăng hoa thành giai điệu, tự nhiên như người ta biết yêu rồi biết hát: Trèo lên cây bưởi hái hoa. Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân… Hoặc: Qua đình ngả nón trông đình. Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu…Câu ca cùng những màu hoa điền dã, những lũy tre xanh bốn mùa, cây đa, bến nước, con đò, vượt dòng thời gian, lắng đọng trong tâm thức người Việt tha hương. Dầu ở Bắc ở Nam ở Trung, hay ở bất cứ nơi nào xa xứ, giữa những cảnh sống hiện đại Âu Mỹ, người Việt vẫn hoài cảm về một thế giới đầy châu chấu, chuồn chuồn, hoa mắc cỡ và những đàn bươm bướm bay hoài không mỏi. Hành trang của họ đã lặng lẽ hiện hữu một kho tàng nghệ thuật xuất phát từ những rung động hồn nhiên. Kho tàng đó lấp lánh từ lúc mới ra đời, với những hạt ngọc muôn màu quanh chiếc nôi đưa. Đó là những lời ru tự thuở nào của mẹ, của chị, của biết bao những nghệ sĩ vô danh sống giữa nội đồng nên thơ. Nếu truy nguyên thời điểm ra đời của hát ru Việt Nam với những bài ca dao làm nền phóng cho thang âm điệu thức thì người ta khó mà ước đoán chính xác. Bởi những giá trị tinh thần đó xuất hiện từ thuở nảo thuở nao, thuở của huyền thoại cổ tích rất lâu xa trong cội rễ dân gian, làng xóm và được lưu giữ trong trái tim của nhiều thế hệ.Về sau này những bài hát ru dần dà được các nghệ sĩ, nhà nghiên cứu nhiệt tâm lặn lội vào các thôn xóm hẻo lánh, buôn làng xa xôi nghe các cụ già, các cô gái hát để ký âm, góp nhặt và thu thập. Mới đây, nhạc sĩ Lư Nhất Vũ - Lê Giang cùng các nhạc sĩ, nghệ sĩ Nguyễn Văn Hoa, Lê Anh Trung, Bích Hường đã thực hiện xong công trình chung mang tên Hát Ru Việt Nam. Theo giáo sư - nhạc sĩ Tô Vũ, nhóm tác giả Hát Ru Việt Nam tuy không phải là những người đầu tiên phát hiện ra giá trị văn học nghệ thuật của thể loại hát ru nhưng "cũng là điều chắc chắn nếu ta nói Hát Ru Việt Nam đã đi tiên phong trong việc xử lý vấn đề một cách (tương đối) quán triệt". Theo tài liệu, hơn 50 năm trước đây, các tác giả sưu tầm âm nhạc dân gian như: Tô Vũ - Xuân Thư; Ngọc Oánh, Tô Ngọc Thanh, Lê Toàn Hùng cũng đã ký âm một số làn điệu hát ru của người Việt nhưng vẫn chỉ ở mức xen lẫn với các loại lý, hò, ví. Khoảng một thập niên sau, hát ru mới được giới lý luận nghệ thuật dân gian dân tộc Việt Nam chú ý nghiên cứu một cách khoa học và có hệ thống hơn. Cũng theo tác giả Em đến thăm anh một chiều mưa và Tạ từ, thì nhóm Hát Ru Việt Nam tập trung phân tích hai điểm chủ yếu về cấu trúc điển hình và ngôn ngữ âm nhạc, mở đầu bằng tiểu luận về Kiểu cách Hát Ru Việt Nam của người Việt và các dân tộc thiểu số. Phần tiếp theo gồm các làn điệu hát ru con, ru hời, ru kệ, hò ru ngủ, ru em, hát đưa em… Phần cơ bản và chính yếu của tập sách sưu tầm và nghiên cứu về cách thức hát ru trong dân ca Việt Nam. Giữa ngọn gió công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang thổi rất mạnh vào đời sống, cuốn theo những thay đổi nhanh đến chóng mặt và tác động không ít tới những nếp ăn nếp nghĩ truyền thống, thì cũng đã xuất hiện gần đây những cố gắng gìn giữ vun đắp các yếu tố "thuần Việt" cội nguồn. Chúng ta thấy diễn ra các hoạt động văn hóa nghệ thuật như cuộc vận động sáng tác Bài ca Việt hiện nay trên Đài Truyền hình Việt Nam, Ý tưởng Việt của Vietbooks và NXB Thông Tấn, đây đó tự phát lặng lẽ sưu tầm, thể hiện, nêu lên giữa các cuộc biểu diễn, trưng bày nội dung: gốm Việt, trang phục Việt, ẩm thực Việt… Trong bối cảnh ấy, hơn 500 trang của Hát Ru Việt Nam do NXB Trẻ mới in, thực sự mang lại một niềm vui và gợi mở, khơi tiếp mạch nguồn văn nghệ Việt từ thuở "nằm nôi" với 152 bài hát ru, gồm 75 bài của người Việt và 77 bài các dân tộc khác. Đặc biệt đã dành một phần cho ca dao, vì theo các nhà nghiên cứu "ca dao chính là nguyên liệu của hát ru" và bản thân nó "cũng mang một giá trị độc lập với nhạc điệu" và đưa ra một số chủ đề có hệ thống về: Lời ru nhớ ông bà cha mẹ, lời chị ru em, lời hát ru tình đời, tình người, lời giao duyên và khát vọng hạnh phúc, hát ru tình trắc trở và uẩn khúc. Những lời ru không chỉ để ru con, ru em, ru trẻ thơ, mà còn để những người trưởng thành bày tỏ, giao duyên thầm kín; hãy lắng nghe người thôn nữ hát: Yêu anh thịt nát xương mòn - yêu anh đến thác vẫn còn yêu anh. Đứa trẻ trong nôi chỉ nghe được âm điệu dịu dàng để ngủ, chứ không hiểu được lời ca đó. Người hiểu chính là những người đã lớn, hiện diện chung quanh nôi đưa, kể cả người hát ru nữa. Cho nên Hát Ru Việt Nam không dừng lại ở chỗ ru cho trẻ ngủ, mà còn gởi gắm trong đó những nỗi nhớ nhau, đánh thức những tâm hồn của ruộng đồng cùng cỏ hoa và tình yêu của họ.Hồng Hạc 
Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Đình Mông @ 00:30 03/07/2010
Số lượt xem: 2189
Số lượt thích: 0 người
Avatar
Chúc cô Vân năm mới nhiều niềm vui!
Avatar
Cảm ơn cô HNam. Chúc cô tuần mới vui vẻ!
 
Gửi ý kiến