Alfred Nobel

Wait
  • Begin_button
  • Prev_button
  • Play_button
  • Stop_button
  • Next_button
  • End_button
  • 0 / 0
  • Loading_status
Nhấn vào đây để tải về
Báo tài liệu có sai sót
Nhắn tin cho tác giả
Nguồn: Internet
Người gửi: Tôn Nữ Bích Vân (trang riêng)
Ngày gửi: 09h:28' 31-03-2008
Dung lượng: 160.0 KB
Số lượt tải: 92
Số lượt thích: 0 người
Alfred Nobel (1833-1896)  Vua thuốc nổ, người thành lập giải thưởng Nobel  
            Trên thế giới hiện nay có loại giải thưởng danh tiếng nhất: Giải Thưởng Nobel. Ông Alfred Nobel đã đặt ra các giải thưởng này để khuyến khích mọi người mang lại Hòa Bình và Hạnh Phúc cho Nhân Loại. Trong đời ông, ông Nobel đã từng bị dày vò vì sự tàn phá của chất nổ dùng không đúng cách và nhiều lần hối hận về các phát minh của mình.
1/ Cuộc đời của Alfred Nobel.
            Alfred Nobel là con thứ ba trong bốn người con của ông Emmanuel Nobel. Alfred ra đời vào ngày 21 tháng 8 năm 1833 tại Stockholm, nước Thụy Điển. Ngay từ thuở nhỏ, Alfred được mẹ chăm sóc từng bước vì thể chất mỏng manh. Cha của Alfred là một kỹ sư tài giỏi, đã truyền lại cho con trí thông minh, tính cần cù và lòng quả cảm.
            Năm Alfred chào đời cũng là năm ông Emmanuel bị phá sản, gia đình Nobel thường phải dọn nhà nhiều lần vì không có khả năng trả tiền thuê nhà. Mấy năm sau, khi ông Emmanuel đang thí nghiệm về vài hóa chất kỳ lạ thì một tiếng nổ lớn phát ra, khiến cho các cửa sổ của căn nhà kế bên bị vỡ tung. Gia đình Nobel vì vậy được lệnh phải rời khỏi thành phố Stockholm. Trong khi ông Emmanuel đang lo sợ bị các chủ nợ đưa ra tòa thì một thám tử người Nga tới gặp ông. Nhân viên này nghe đồn ông Emmanuel đã làm ra được một thứ thủy lôi nên mời nhà phát minh tới Saint Petersburg để trình bày trước Sa Hoàng Nicholas I. Ông Emmanuel liền mang sáng chế của mình sang nước Nga. Sau cuộc biểu diễn, chính quyền Nga bằng lòng xuất tiền cho ông lập ra một cơ xưởng tại Saint Petersburg nhưng với điều kiện các phát minh đều thuộc về nước Nga.
            Ông Emmanuel tới nước Nga khi Alfred mới lên 4 tuổi. Trái với các anh em trong nhà, Alfred rất yếu đuối. Cậu bị yếu xương sống, lại mắc thêm chứng nhức đầu và đau dạ dày. Năm lên 8 tuổi, Alfred theo học tại một trường tư ở Stockholm trong một năm rồi ông Emmanuel cho người về đón cả nhà dọn sang nước Nga. Tại thành phố Saint Petersburg, ông Emmanuel đã thuê thầy giáo dạy các con tại nhà về các môn văn chương, sinh ngữ và toán học. Trong số các con, ông thương yêu Ludwig vì cho rằng người con thứ hai này thông minh nhất.
            Khi Alfred 16 tuổi, ông Emmanuel nghe nói một người đồng hương với ông là John Ericsson đã di cư sang New York và đã thành công về một thứ động cơ nhiệt. Thêm vào đấy, danh tiếng của Ericsson về chiếc tầu thủy Monitor đã khiến cho ông Emmanuel quyết định gửi một đứa con qua Hoa Kỳ theo học về động cơ dùng cho tầu biển. Vì không thể sống xa Ludwig, ông Emmanuel đã cho Alfred đi học cơ khí tại xưởng máy của Ericsson. Nhưng Alfred đã không sống tại New York được lâu bởi vì bản tính hay gắt gỏng và lệch lạc của ông Ericsson trong khi Alfred lại là con người kém kiên nhẫn.
            Sau khi làm xong tờ báo cáo về chiếc động cơ mà cha đã quan tâm, Alfred trở về Pháp. Tại thành phố Paris, Alfred đã yêu tha thiết một thiếu nữ nhưng cô này chết yểu. Quá chán nản, Alfred quay về cơ xưởng của cha để làm việc cho quên tất cả nỗi buồn phiền.
            Khi gần 20 tuổi, Alfred Nobel đã nói và viết được nhiều thứ tiếng: Pháp, Anh, Nga rồi mấy năm sau, lại thông thạo thêm các tiếng Đức và Ý. Do thể chất còn yếu đuối, Alfred phải nằm hàng giờ mà đọc sách nhưng chính nhờ thế mà cậu xuất sắc hơn các bạn. Chính tại nước Nga hồi 20 tuổi, Alfred Nobel đã bị ám ảnh bởi một thứ chất nổ ghê gớm. Một hôm, trước một số sinh viên trong phòng thí nghiệm của Đại Học Đường Saint Petersburg, Giáo Sư Sinin để một chất hơi đặc, không màu lên trên một cái đe rồi lấy búa đập: một tiếng nổ phát ra. Đập vào chỗ khác lại có tiếng nổ khác và Giáo Sư chứng tỏ rằng tiếng nổ sinh ra tại nơi đập. Giáo Sư Sinin bảo các sinh viên:"chất nổ trông giống như dầu sà lát này tên gọi là Nitroglycérine. Vào năm 1846, Giáo Sư Ascanio Sobrero người Ý, đã phát minh ra nó nhưng ông ta bỏ dở công trình vì xét ra quá nguy hiểm".
            Cuộc chiến tranh giữa các nước Nga và Anh Pháp bùng nổ. Alfred cùng ba anh em là Robert, Ludwig và Emil giúp cha trong việc chế tạo máy móc và khí giới. Xưởng cơ khí của ông Emmanuel vào thời kỳ này rất phát đạt, hàng ngàn thợ làm việc quần quật ngày đêm mà không sản xuất đủ khí giới tung ra các mặt trận. Alfred say mê nghề nghiệp, không lúc nào rời cơ xưởng. Chàng thường ăn và ngủ ngay tại nơi làm việc. Trận chiến tranh Crimea (1853-56) đã đến lúc kịch liệt rồi pháo đài Sebastopol đang bị công phá càng làm tăng thêm số đơn đặt mua võ khí. Khi tấn công hải cảng Kronstadt, hạm đội Anh đã đụng phải thủ lôi của ông Nobel và đành phải rút lui. Các sáng kiến của ông Emmanuel đã khiến cho ông được Sa Hoàng gắn huy chương và lại được trao tặng một chiếc đồng hồ vàng. Gia đình Nobel vì vậy càng thêm giàu có, sang trọng.
            Lúc chiến tranh chấm dứt, chính quyền Nga không mua võ khí nữa làm cho gia đình Nobel lâm vào tình trạng khủng hoảng vì ông Emmanuel đã bỏ rất nhiều tiền vốn vào một cơ xưởng mới. Người nâng đỡ nhà phát minh là Sa Hoàng Nicholas I đã từ trần trong khi Sa Hoàng Alexander lại hủy bỏ các giao kèo chế tạo súng trường. Thêm vào đó, các người chung vốn hùa nhau đòi lại tiền làm cho gia đình Nobel thêm bối rối. Alfred được cha giao việc đi vay mượn tại châu Âu.
            Sau rất nhiều lần thất bại, năm 1861 Alfred vào yết kiến Vua Napoléon Đệ Tam vì vào  thời bấy giờ, vị vua này đang nổi danh là người hảo tâm. Alfred được trợ giúp 100 ngàn quan nhưng rồi sang năm sau, ông Emmanuel vẫn phải nhượng lại cơ xưởng của mình cho các chủ nợ, rời khỏi nước Nga, cùng vợ và người con út trở về Stockholm. Alfred lưu lại Nga với hai người anh lớn.
Khi về tới Thụy Điển, ông Emmanuel lại bắt tay vào việc tìm kiếm chất nổ mới để khai phá hầm mỏ và đã tìm ra hai chất mạnh gấp đôi thuốc súng: một chất là hỗn hợp của thuốc súng với acít chlorhydric còn chất kia là thuốc súng trộn với dầu nổ. Khi được thư của cha cho biết việc này, Alfred vội vàng về Heleneborg, lòng đầy tin tưởng. Tới nơi, Alfred thử lại thì bị thất vọng. Chất thứ nhất làm không xuể còn nitroglycerine trộn với thuốc súng thì chỉ nổ khi mới pha, hai giờ sau sức nổ giảm đi rồi để lâu nữa thì chỉ cháy bùng như thuốc súng vậy. Có khi một lọ đựng chất nitroglycerine rơi xuống đất mà không phát nổ, lại có khi khẽ đụng vào lọ đã làm cho chất đó nổ tung rồi.
Alfred Nobel đã làm rất nhiều thí nghiệm với chất nitroglycerine. Ông  đổ chất này vào ống thủy tinh rồi đậy nút, cho vào một ống thiếc đựng thuốc súng, châm lửa rồi quăng vào nước. Một tiếng nổ lớn phát ra, làm bắn vọt nước lên cao chứng tỏ rằng nitroglycerine và thuốc súng đã nổ. Ông làm lại thí nghiệm rất nhiều lần, với các chất pha trộn khác nhau rồi nghĩ ra cách làm hạt nổ bằng fulminat thủy ngân. Ngày nay, phát minh này vẫn còn là căn bản cho việc dùng nitroglycerine và dynamite.
Vào tháng 8 năm 1863, Alfred Nobel được giấy phép chế tạo chất nổ bằng thuốc súng theo phương pháp mới song lúc nào ông cũng lưu tâm đến việc làm nổ nitroglycerine nguyên chất. Không lúc nào ông ngừng thí nghiệm. Ông chinh phục dần dần được chất nổ này. Việc sản xuất chất nổ gia tăng đã mang lại cho ông các mối lợi lớn. Thụy Điển và Phần Lan là hai nước đầu tiên dùng chất nổ của Alfred Nobel để khai phá hầm mỏ. Các nước Anh và Pháp gửi giấy mời nhà phát minh sang biểu diễn còn các chủ nhân của những hầm mỏ tại nước Bỉ và xứ Bohême gửi rất nhiều đơn đặt mua chất nổ. Nhưng chất nổ của Nobel không phải là không mang lại các tai họa.
Ngày 3 tháng 7 năm 1864, xưởng của Alfred Nobel tại Heleneborg-sur-Soder phát nổ, làm cho 4 người chết: Emil, người em ông, một thợ máy, một người làm công và một bà giúp việc vặt. Sau cuộc điều tra, Alfred bị cấm không được chế tạo chất nổ tại nơi này nữa. Tuy bị đóng cửa xưởng chế tạo nhưng Alfred vẫn cố gắng. Ông cùng hai người khác lập ra một xưởng mới với tiền vốn là 125 ngàn đồng kronors. Vì bị cấm làm xưởng trong khu vực Stockholm, Nobel đặt xưởng chế tạo trên một chiếc bè nổi giữa hồ. Ông vừa là hóa học gia, nhà sản xuất, vừa là kế toán viên. Ông Nobel làm việc không ngừng vì lúc nào cũng muốn chứng minh rằng dầu nổ của ông không nguy hiểm. Lúc đầu, tiền vốn cạn hết, rồi tiền mua quyền khai thác của nước Na Uy đã khiến cho ông trả hết nợ.
Việc dùng nitroglycerine bắt đầu thịnh hành. Chính quyền Thụy Điển đã sử dụng chất nổ này vào việc đào một đường hầm tại Stockholm. Trong vòng một năm, các nước Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, Đức, Đan Mạch đã có những xưởng chế tạo nitroglycerine. Các kết quả mang lại thực là rực rỡ.
Nhưng từ ngày 11 tháng 12 năm 1865, các thảm họa bắt đầu xẩy ra liên tiếp. Vào ngày hôm đó, con tầu Mosel đậu tại hải cảng Bremerhaven phát nổ làm 184 người bị thương, 28 người chết. Gây ra thảm họa này là tên William. Tên này cũng bị thương nặng nên trước khi chết, y có thú nhận rằng y làm cho tầu phát nổ vì đã bảo hiểm hàng hóa trên tầu. Y đã dùng một quả bom chứa chất nitroglycerine và quả bom này đã nổ trước kỳ hạn. Tên lưu manh này đã dùng phát minh của Alfred Nobel vào việc phá hoại.
Lại một buổi sáng khác, xưởng chế tạo của ông Nobel tại Na Uy nổ tan thành bụi. Một tuần lễ sau tại Silesie, một nhân viên hỏa xa chặt một khúc nitroglycerine đông đặc: người ta tìm thấy chân nạn nhân bị bắn đi quá một cây số sau tiếng nổ. Vào hai tháng 3 và 4 năm 1866, tại Sydney có 80 người chết vì chất nitroglycerine, 120 người chết trong một kho hàng tại San Francisco và các căn nhà kế cận bị sụp đổ, rồi 70 thùng nitroglycerine nổ tung trên một con tầu biển bỏ neo trong Kênh Đào Panama làm 224 người tử thương, bến tầu và các kho chứa hàng đều bị phá hủy, các con tầu đậu gần đó bị tổn hại rất nhiều, người ta tính rằng thiệt hại lên tới hơn một triệu đô la. Nhưng thế vẫn chưa hết: xưởng Keummel tại Berlin nổ vào tháng 5, một xưởng khác tại Na Uy nổ ít lâu sau và số người chết phải kể hàng trăm một.
Vài tháng trước đây, châu Âu đang hân hoan đón mừng chất nổ nitroglycerine thì ngày nay, cùng cương quyết cấm hẳn chất này. Nước Bỉ và Pháp đặt chất nổ đó ra ngoài vòng pháp luật còn tại hai nước Mỹ và Anh, nếu ai chứa chất nổ đó sẽ bị treo cổ. Rất nhiều nước đặt ra luật lệ
 
Gửi ý kiến