Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước - Danh nhân văn hóa đất Cần Thơ.
CỦA NỀN ÂM NHẠC CÁCH MẠNG
-------------------
Nhìn lại “Khúc tráng ca thế kỷ” giáo sư-viện sĩ-nhạc sĩ Lưu Hữu Phước là người lính tiên phong đưa âm nhạc vào trận chiến giành độc lập tự do cho Tổ Quốc. Trong kho tàng âm nhạc Việt Nam, ông để lại hàng trăm ca khúc, nhạc kịch mang tinh thần lạc quan cách mạng, một ý chí tiến công bắt nguồn từ lòng yêu nước, từ khát vọng của một tâm hồn gnhệ sĩ-chiến sĩ. Ông sinh ngày 12-9-1921 trong một gia đình nhà Nho ở ÔMôn- Cần Thơ, lớn lên trong tiếng hát ru cùng những làn điệu dân ca quê mẹ. năm 11 tuổi, ông học xong bậc Tiểu học ở quê nhà, sau đó học tiếp ở trường Collège - Cần Thơ cùng với Nguyễn Mỹ Ca, Mai Văn Bộ, nơi hội tụ những học sinh, sinh viên yêu nước, cùng nhau rèn đức, luyện tài, nuôi dưỡng ý chí cách mạng.
Từ những năm 1940-1941, ông cùng với anh em sinh viên Nam Bộ đã tổ chức hành hương về cội nguồn dân tộc như: Đền Hùng, Đền thờ Trần Hưng Đạo, Đền thờ Thánh Gióng, sông Bạch Đằng,…gợi cho ông nhiều cảm xúc về đất nước, tổ tiên, anh hùng dân tộc nên ông đã cho ra đời nhiều bài hát nổi tiếng: Bạch Đằng Giang, Ải Chi Lăng, Hát Giang trường hận, Người xưa đâu tá,… đặc biệt là bài “Tiếng gọi sinh viên” trở thành “Tiếng gọi thanh niên” là bài hát chính thức cho phong trào thanh niên Việt Nam, sau đó sửa lời thành “Quốc dân hành khúc” & nhân dân Nam Bộ hát chào cờ, trước khi Quốc Hội Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa khóa I thông qua quyết định chọn bài “Tiến Quân Ca” của Văn Cao làm Quốc ca.
Ở mỗi chặng đường lịch sử đầy hào hùng của dân tộc ta, tác phẩm của ông lại ra đời cổ vũ mạnh mẽ lòng yêu nước, phong trào cách mạng bùng lên chống xâm lược như: “Lên đàng” là bài hát tiêu biểu của thế hệ thanh niên trong cách mạng tháng 8-1945 & kháng chiến chống Pháp. Bài “Ca ngợi Hồ Chủ Tịch” trở thành “Lãnh Tụ Ca” là ca khúc nghi lễ của Đảng & Nhà Nước ta. Bài “Hồn Tử Sĩ” trở thành nhạc mặc niệm trong nghi thức các buổi lễ. Bài hát “Thiếu nữ Việt Nam” trở thành nhạc hiệu của chương trình phát thanh Phụ Nữ Việt Nam. “Giải phóng miền Nam” trở thành bài hát bài hát chính thức của Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam. Với ca khúc này Nhà hát ca múa nhạc Việt Nam đã đi lưu diễn ở nhiều nước & cuốn hút, thôi thúc bạn bè quốc tế: Nga, Nhật, Pháp, Ý, Cuba, Trung Quốc,…góp phần khích lệ bạn bè thêm tin yêu & ủng hộ cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta. Bài “Khúc khải hoàn ca” là nhạc hiệu của Đài Truyền hình Việt Nam, bài “Tiến về Sài Gòn” là nhạc hiệu của Đài Tiếng nói nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Các ca khúc trên mang ý nghĩa thời đại lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc Việt Nam.
Bên cạnh số lượng tác phẩm nổi tiếng đồ sộ, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước còn có nhiều đóng góp to lớn trong lãnh đạo, quản lý ngành nghề. Khi ở cương vị Vụ trưởng Vụ âm nhạc & múa, ông đã kiên trì chủ trương bảo lưu & phát triển âm nhạc dân tộc trong các trường nhạc & đoàn văn công. Thông qua số lượng tác phẩm trong thi tuyển & trình diễn, ông cải tiến nhạc cụ dân tộc, khuyến khích nhạc công học & sử dụng nhạc cụ dân tộc như: Violon với đàn nhị, Flute với sáo trúc, Ơboa tương ứng với Sona,…Khi là viện trưởng Viện âm nhạc & múa ông muốn Viện là một mô hình khép kín từ sưu tầm, khai thác tới nghiên cứu rồi giảng dạy, sáng tác, biểu diễn,… Khi ấy Viện đã có chương trình “SKPVAT” (Sưu tầm, khai thác & phát triển vốn âm nhạc truyền thống) trong cả nước bằng phương tiện ghi âm, chụp hình, quay phim, có lớp Đại học dân tộc, có đội biểu diễn thể nghiệm & có bảo tàng âm nhạc truyền thống. Ông còn là người có công trong việc thành lập Dàn nhạc giao hưởng đầu tiên ở Việt Nam. Năm 1959, ông đã tập hợp những nghệ sĩ tài năng của Đoàn Ca múa nhân dân trung ương, Đoàn Ca nhạc Đài tiếng nói Việt Nam, Ca múa quân đội, Đoàn Quân nhạc & Trường âm nhạc Việt Nam. Dàn nhạc được vinh dự trình diễn chào mừng Đại Hội lần thứ III của Đảng năm 1960, vinh dự được Bác Hồ cầm đũa trực tiếp chỉ huy dàn nhạc. Ông còn là người có công lớn trong tổ chức & xây dựng Nhà hát giao hưởng-hợp xướng-nhạc vũ kịch đầu tiên ở Việt Nam.
Trên mặt trận lý luận phê bình âm nhạc, ông tập trung vào các chủ đề: thừa kế, phát huy vốn âm nhạc truyền thống dân tộc, đường lối dân tộc hiện đại trong âm nhạc, xây dựng phong trào văn nghệ quần chúng,…Trong suốt chặng đường dài đấu tranh cách mạng, ông luôn kiên định lập truờng âm nhạc chính trị “Âm nhạc là vũ khí đấu tranh cách mạng, làm âm nhạc để phụng sự Tổ Quốc”. Quan điểm trong sáng tác & hoạt động âm nhạc của ông là: chống âm nhạc phản động, đồi trụy, ngoại lai, xây dựng nền âm nhạc XHCN đậm đà bản sắc dân tộc. Trong kho tàng âm nhạc, ông để lại trên 50% tác phẩm đề cập đến tuổi trẻ, vào những ngày tháng cuối đời ông vẫn đặc biệt quan tâm đến tuổi trẻ, ông đã đề xuất chương trình giáo dục âm nhạc, nhất là âm nhạc dân tộc ở các trường văn hóa phổ thông.
Với tài năng & đức độ, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước được Đảng & Nhà Nước giao giữ nhiều trọng trách quan trọng: Chủ tịch Hội văn nghệ giải phóng miền Nam Việt Nam (1966-1976), Bộ trưởng Bộ văn hóa thông tin chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, Ủy viên Trung ương mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (1969). Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng ông đã kinh qua các chức vụ: Giáo sư, Viện sĩ Viện nghiên cứu âm nhạc Việt Nam (1976-1986), Viện sĩ thông tấn-Chủ tịch Hội đồng âm nhạc Quốc gia (1980-1989), Đại biểu Quốc hội khóa VI-Chủ nhiệm Ủy ban văn hóa giáo dục của Quốc hội (1976-1986), Phó chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban TW Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam (1984), Viện sĩ Thông tấn ngành âm nhạc Viện Hàn lâm nghệ thuật Cộng Hòa Dân Chủ Đức (1986), năm 1987 ông là thành viên Hội đồng Quốc gia chỉ đạo biên soạn Từ điển bách khoa Việt Nam. Ông được phong Giáo sư cấp 2 ngành Âm nhạc học. Bên cạnh đó, ông còn giữ nhiều nhiệm vụ khác nhau trong công tác Đảng, từ Ủy viên Đảng bộ Bộ văn hóa, Bí thư Đảng Đoàn Hội nhạc sĩ Việt Nam, Bộ Văn hóa- Thông tin đến Ủy viên Ban tuyên huấn TW cục miền Nam.
Trân trọng & ghi nhận những đóng góp quý báu của cố Giáo sư-Viện sĩ-Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đối với sự nghiệp cách mạng & nền âm nhạc nước nhà, Đảng & Nhà Nước đã trao tặng ông nhiều phần thưởng cao quý, trong đó có phần thưởng danh dự của Nhà Nước là “Giải thưởng Hồ Chí Minh” truy tặng vào tháng 10-1996. Ông đã đi xa (mất ngày 08-6- 1989 tại T.P Hồ Chí Minh), nhưng âm vang của những khúc ca trong sáng, hào hùng vẫn vang vọng mãi với non sông đất nước. Nhân dân cả nước cũng như nhân dân Cần Thơ mãi biết ơn & tự hào về người nhạc sĩ lớn, tài ba của dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh.
(Theo “Danh nhân & di tích văn hóa-lịch sử Tỉnh Cần Thơ” - Sở Văn hóa-Thông tin Cần Thơ).
Phạm Thị Trước @ 23:35 03/07/2010
Số lượt xem: 688
- Nhã nhạc cung đình Huế. (03/07/10)
- Nhà thơ yêu nước Phan Văn Trị - Danh nhân văn hóa đất Cần Thơ. (03/07/10)
- Thủ khoa Bùi Hữu Nghĩa-Danh nhân văn hóa đất Cần Thơ. (03/07/10)
- Soạn giả Mộc Quán Nguyễn Trọng Quyền. (03/07/10)
- Nhà giáo Châu Văn Liêm-Danh nhân văn hóa đất Cần Thơ. (03/07/10)
Các ý kiến mới nhất