Nơi cuối con dốc
Trôi đâu đó trong giấc mơ người khác
Đó là buổi chiều vàng hơn cả
giấc mơ úa vàng của kẻ sầu cảm. Hoàng hôn vàng thẫm giăng ngập đỉnh đồi, phủ trùm căn nhà chúng tôi. Nhưng từ buổi chiều này, những buổi hoàng hôn nhuộm trong giá lạnh, đượm buồn nao nao rồi sẽ trôi qua theo cách thật khác.
Họ đến. Họ đang từng bước dấn chân vào ngôi nhà nằm đầu con dốc. Tôi lắng nghe tiếng chân họ bước vào cuộc đời tôi. Tiếng vó ngựa quen thuộc lóc cóc báo cho tôi biết điều đó. Từ dưới con dốc, giữa chừng con dốc, rồi đầu con dốc và cuối cùng là điểm đến của họ trong buổi chiều này - dừng lại ở trước nhà. Khăn áo quấn chặt người, họ líu ríu xuống xe. Đứa trẻ mặt mũi ửng đỏ vì lạnh, bíu ríu nắm tay người đàn bà. Cha lặng im cần mẫn bốc dỡ từng thứ xuống khỏi xe. Những chiếc vali, chiếc rương gỗ khóa chặt, những chậu hoa tôi không biết tên, ba bức tranh bọc kín trong giấy báo... lần lượt được mang vào phòng. Những đồ vật cồng kềnh, vô tri vô giác khiến tôi hiểu rằng họ không phải là những người khách trọ đến rồi đi rất nhanh như những người đã từng ghé qua nơi đây.
Họ sẽ ở đây rất lâu, như cây cắm rễ xuống đất.
Từ ô cửa sổ rộng hai mét vuông ở phòng mình, tôi có thể thấy rõ khuôn mặt đang lấp lánh tia sáng vui mừng của cha tôi. Tôi không biết ngày cha đón mẹ về nhà, tia mừng vui có hiển hiện trên khuôn mặt cha không? Tôi không bao giờ biết được những điều tôi muốn biết - những kỷ niệm ít ỏi về cha mẹ tôi. Mẹ mất ngay sau khi tôi ra đời. Cuộc sống của cha và mẹ trước đó luôn là ẩn số không bao giờ tìm ra lời giải đáp. Cha cất những tấm ảnh của mẹ, cất luôn những kỷ niệm về mẹ vào chiếc hộp gỗ hương nhuộm màu thời gian, khóa chặt lại, đặt trong căn phòng trên gác xép.
Đêm nay, căn phòng mười bốn năm chưa bao giờ được mở ra ấy đã thuộc về người khác.
Bất giác tôi chạnh lòng, thấy mất mát điều gì đó rất lớn lao. Tôi quay mặt đi, tránh họ nhìn thấy tôi, để tôi không phải nói lời chào. Tôi không muốn chào hỏi. Tôi chưa bao giờ là đứa con ngoan. Tôi không cần thiết phải gắng làm đứa con ngoan, gắng nhoẻn miệng cười, khoanh tay chào hỏi hai người xa lạ kia trong hoàn cảnh này.
Họ đã đến. Tôi biết rằng họ sẽ đến vào thời khắc người đàn ông khắc khoải già nua đang đóng vai trò là cha tôi bắt đầu cảm thấy sợ hãi nỗi cô độc ngự trị trong mình. Tôi đã gặp họ đâu đó trước cả buổi chiều này. Tôi đã gặp người đàn bà ấy trong giấc mơ của cha tôi. Cha đi trong thanh âm hạnh phúc với tiếng lách cách của những bữa cơm gia đình đầy đủ bốn chỗ ngồi, những buổi sáng ngồi uống cà phê, ăn bữa sáng với bánh mì và trứng ốpla bên chiếc bàn gỗ cha đặt ngoài vườn... Thanh âm hạnh phúc giống tiếng chim chuyền tíu tít, gõ vào tai, vào hồn cha từng hồi bất tận. Cha hân hoan đi trên chiếc cầu thang dệt từ những thanh âm tươi đẹp ấy.
Khi năm, khi sáu, khi bảy tuổi, trên con đường đi học cùng cha, tôi luôn tíu tít hứa với cha rằng sau này tôi sẽ trở thành đứa con ngoan. Tôi sẽ nấu cho cha những món ngon, sẽ làm món bánh quế cha thích, sẽ pha cà phê cho cha vào mỗi sáng, sẽ đọc sách cho cha nghe. Tôi sẽ lấp đầy những điều khiếm khuyết mẹ tôi đã không kịp làm. Nhưng tôi chẳng làm được bất cứ điều gì trong những điều đã hứa. Tôi lớn lên, hoang dại như cỏ mọc hoang ngoài vườn và mềm yếu như sương đêm. Tôi không biết cách làm bánh quế, không thể thức dậy sớm pha cà phê cho cha, không đủ can đảm xóa nhòa khoảng cách vô hình đã mọc ra giữa cha và tôi tự bao giờ để có thể đến ngồi sát bên cha, đọc cho cha nghe một vài trang sách. Những cơn sốt nhấn chìm tôi vào mỗi chiều, tôi dần trở nên cáu bẳn, ngang bướng, thù hằn trong những giấc mơ.
Cha cần một ai đó khác tôi - một ai đó có thể đem đến cho cha sự ấm áp đủ đầy của một gia đình.
Họ đã đến. Lấp đầy vào chỗ trống mẹ vô tình gây ra và tôi cố tình tạo thành suốt mười bốn năm qua. Từ nay tôi sẽ gọi người đàn bà bước xuống đời tôi từ buổi chiều buốt giá bằng danh xưng "dì” và đứa con gái xa lạ, ốm yếu kia bỗng nhiên trở thành em gái tôi.
Một bức chân dung
- Em ấy tên là Thụy. Mười ba tuổi. Nhỏ hơn con một tuổi nên sẽ là em của con, nhé!
Người đàn bà rụt rè giới thiệu đứa con gái đang ngồi bên cạnh mình vào bữa cơm cách buổi chiều vàng kia ba ngày. Đứa con gái tên Thụy len lén nhìn tôi, cất tiếng chào khe khẽ trong miệng. Tôi nhếch mép cười thầm, quay bước về phòng. Đúng! Thụy hứa hẹn sẽ là người thế chỗ hoàn hảo.
Thụy mười ba tuổi, môi son, tóc đen, đôi mắt màu xám trong veo. Thụy nói giọng Bắc ngọt ngào, cất tiếng gọi "bố" đầy trìu mến chứ không phải là tiếng dượng đầy xa cách. Thụy là phiên bản đối lập hoàn toàn với tôi. Thụy biết giấu mình ngoan ngoãn, biết nấu canh chua, biết trộn salad, biết cha tôi thích loại sách nào. Và trong những lúc đọc sách, Thụy còn khe khẽ những khúc hát, tung tẩy chiếc váy du mục trong phòng, nhảy múa. Giữa Thụy và cha, người đàn bà kia đã tạo thành hình ảnh về một gia đình hoàn hảo, hạnh phúc.
Tất nhiên, tôi không bao giờ cố chen vào bức tranh hoàn hảo đó, cũng không có ý sẽ phá tan nó. Tôi chỉ lẳng lặng tồn tại như tôi đã từng lớn lên hoang dại như cỏ. Tuy nhiên sự mềm yếu của sương đêm kia đã được ngụy trang bằng những chiếc lông nhím cáu bẳn, hung dữ nếu Thụy đến gần tôi. Nhưng ít khi tôi phải sử dụng đến những chiếc gai của mình vì Thụy không đụng chạm đến tôi. Thụy có nhiều việc phải làm, nhiều mối quan tâm hơn là chạm vào kẻ cộc cằn, khô rốc như tôi.
Những người khách du lịch đến rồi đi trong ngôi nhà chúng tôi luôn muốn bằng cách nào đó được chụp chung với Thụy một tấm ảnh. Thụy đang ngủ trưa, họ sẽ chờ Thụy thức dậy. Thụy đang luyện đàn ba tiếng, họ sẽ ngồi dưới sương, dưới gió chờ Thụy. Có lắm gã khách trọ trẻ đã ngồi hàng tiếng trước nhà dỏng tai lắng nghe Thụy kéo violin bản Czardas rồi lẵng nhẵng bám theo Thụy xin chụp cho bằng được một tấm ảnh.
Tôi tự thấy tôi và Thụy không liên quan gì đến cuộc đời nhau. Ngoài chuyện ngồi chung bàn ăn ngày ba lần, đều bị gọi là những đứa con gái kỳ quặc vì đến trường mỗi sáng bằng chiếc xe ngựa lóc cóc cổ lỗ thì tôi và Thụy không có bất cứ điểm chung nào nữa. Chúng tôi là những mảnh vỡ trôi trên hai đường thẳng song song, không chạm vào nhau, không liên quan tới nhau.
Những chiều thứ bảy trong đời
Có lẽ tôi và Thụy mãi là hai mảnh vỡ trôi nổi, lướt ngang không chạm vào nhau nếu giữa tôi và Thụy không cùng bị níu vào một mối quan tâm giống nhau.
Là Khoa. Gã trai mười bảy tuổi, chung lớp học với Thụy.
Nhà Khoa ở phía trên nhà chúng tôi. Mỗi chiều thứ bảy, Khoa phóng vút qua mắt tôi trên chiếc xe phân khối lớn cũ. Trên người Khoa lủng lẳng giá vẽ, túi đựng giấy, thi thoảng mỉm cười khi chạm phải tôi nơi đầu con dốc.
Tôi không biết vì sao mình lại quan tâm đến Khoa như vậy. Giữa tôi và Khoa chỉ dừng lại ở nụ cười đáp lệ và cái nhìn tôi len lén gửi mỗi khi Khoa rề rà chạy theo xe ngựa chúng tôi để trò chuyện với Thụy. Chính lúc trao gửi ánh mắt yêu thương ấy, tôi thấy mình chưng hửng, bởi tôi chợt nhận ra sợi dây vô hình quấn quanh Thụy và Khoa. Chung lớp học. Cùng thay phiên nhau đánh đàn ở nhà thờ vào mỗi chiều thứ bảy và là con chiên ngoan đạo của Chúa. Tôi biết tôi không thể làm gì khác ngoài việc đứng ngoài rìa mối quan hệ của Khoa, chỉ để được nhìn ngắm Khoa, đắng đót nghe tiếng Khoa gọi mình bằng lớp vỏ ngôn từ trống rỗng.
Mỗi chiều thứ bảy, tôi ngồi nép ở chỗ ngồi cuối cùng trong đám người đi lễ nhà thờ chỉ để nhìn tấm lưng Khoa từ phía sau. Tôi không theo đạo, trên tay tôi, năm mười tuổi, tôi và người vú già đã lén xăm một hình xăm chữ vạn nho nhỏ, như hình chữ vạn nơi mu bàn tay mẹ tôi, để tưởng nhớ về mẹ. Vậy mà chiều thứ bảy nào tôi cũng đi lễ nhà thờ. Chỉ vì nơi đó tôi có thể nhìn Khoa thật kỹ, thật lâu.
- Chị và Khoa ư? Chỉ có thể là một chuyện nực cười.
Tôi tưởng tượng khi gặp nhau, Thụy đã nói điều ấy với Khoa. Khi gặp họ ngồi trên đồi với nhau, Thụy tựa đầu vào vai Khoa thì thầm gì đó, tôi đã thực tin rằng Thụy đang hỉ hả cười trên nỗi đau của tôi. Nhưng tôi biết làm gì khác? Tôi đâu thể mang sự hoang dại và những chiếc gai nhím của tôi vào tình yêu với Khoa. Tôi đâu thể làm gì khác ngoài việc cất những giấc mơ về Khoa tận sâu trong đáy lòng và chịu những vết cắt dằn day.
Vì Khoa, tôi trượt đại học.
Tôi dần lãng quên chính Khoa và tình cảm của mình trong cố gắng tiếp quản công việc kinh doanh nhà nghỉ. Một năm sau, Khoa hòa vào đám thanh niên rời khỏi phố núi nhỏ bé đổ về thành phố rộng lớn hơn, thỏa ước muốn làm con chim sải cánh tung hoành ngang trời. Khoa mười tám tuổi, vẫn ngang tàng với ước mơ sẽ vẽ nên những bức tranh làm kinh ngạc giới hội họa. Nên tôi biết sẽ rất lâu Khoa mới quay về ngang qua con dốc này. Nơi đầu con dốc, Thụy sẽ phải chờ thêm rất nhiều buổi chiều nữa. Và ẩn đâu đó sau Thụy, có tôi vẫn khờ dại chờ.
Mùa hoa anh đào, năm Thụy hai mươi tuổi, tôi nhận được lá thư dày cộm. Bên ngoài lá thư ghi người nhận là Thụy.
Đã không còn nàng thiếu nữ nhảy trên dây đàn
Tôi nhớ ngày Thụy ra đi là ngày trở gió. Gió đầu xuân lạnh buốt. Những người khách trọ ồn ã ngồi đốt lò sưởi, ăn thịt nướng trong căn chòi trước nhà. Họ hát ca, nhảy múa, reo hò. Một gã trai nào đó trong nhóm cầm guitar gảy bản Those were the days và gọi tên Thụy. Thường, trong những đêm khách trọ đốt lửa trại, Thụy góp vui bằng những điệu nhảy du mục trong tiếng guitar và đống lửa bập bùng. Họ gọi Thụy là "nàng thiếu nữ nhảy trên dây đàn". Nhưng đêm ấy Thụy không mặc chiếc váy du mục trên người và nhảy như thường lệ. Thụy cáo mệt, muốn về phòng ngủ. Đám khách tiếc nuối tiễn Thụy. Họ lại tiếp tục đàn, tiếp tục hát. Tiếng hát át mất tiếng khóc của Thụy. Nên không ai biết rằng, đêm ấy trong căn phòng tối om trên gác xép Thụy đã khóc. Chỉ còn tôi, trong căn phòng sát bên Thụy lắng nghe Thụy gắng kềm tiếng nấc. Tiếng ngắt đứt quãng, hòa trong tiếng ồn ã của đám đông, bị nhấn chìm trong nhạc Richard Claydermand mà Thụy cố tình vặn to.
Tôi biết rằng sau khi bản nhạc trong máy kết thúc Thụy sẽ đi. Thụy đang sắp xếp đồ đạc. Những chiếc váy của Thụy, bức tranh cha vẽ Thụy, đĩa nhạc, sách dạy nấu ăn... Thụy sẽ mang theo cuộc sống của mình đến nơi khác. Thụy sẽ trèo qua cửa sổ phòng ngủ, rón rén di chân như loài mèo. Hôm nay là ngày cuối cùng của kỳ hẹn hai năm. Khoa đã không trở về. Hai năm, Thụy đã chờ đợi. Hai năm, Thụy đã không nhận được bất cứ tin tức nào của Khoa. Đã đến lúc Thụy phải đi tìm Khoa. Rồi rất lâu sau Thụy mới trở về hoặc Thụy sẽ không bao giờ trở về nữa. Đâu đó trên những con đường Thụy đi, bồng bềnh trong giấc mơ Thụy gặp Khoa ở nơi trong thực tế họ sẽ không bao giờ gặp được nhau.
Tôi đã đi theo Thụy đến cuối con dốc, đứng ở đó, chìm lẫn trong bóng đêm, nhìn bước chân Thụy liêu xiêu trong đêm lạnh. Dưới tấm áo khoác mỏng của tôi, lá thư nghiêng nghiêng nét chữ của một người con gái khác rột roạt gõ vào tim đau nhói. Tôi đã không đưa lá thư cho Thụy.
Tôi ước giá tôi đủ can đảm ôm lấy vai Thụy một lần. Và an ủi. Hoặc tôi đủ can đảm kể với Thụy sự thật, rằng mãi mãi Thụy không thể gặp Khoa.
Khoa đã không bao giờ còn thuộc về Thụy nữa. Khoa đang ở nơi xa ngái, không ai trong chúng tôi biết đến, cùng với một người con gái khác.
Làm sao tôi có thể nói những lời đó? Làm sao tôi có thể tước đi hi vọng của Thụy? Tôi phải để Thụy đi và bắt đầu cuộc sống khác. Không phải là cuộc sống của búp bê chỉ biết đàn, chỉ biết nhảy múa và chỉ biết chờ đợi vô vọng.
THIÊN BÌNH
(TP.HCM)
Tôn Nữ Bích Vân @ 20:29 09/09/2009
Số lượt xem: 405
- Giữ mãi tình bạn (31/08/09)
- Thèm buổi chiều Phan Thiết... (27/08/09)
- Sớm mai trên sông (26/08/09)
- Tiếng vĩ cầm dang dở (22/08/09)
- Cái cây (06/08/09)
Các ý kiến mới nhất